SCDI Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phát triển Cộng đồng

TIN TỨC

HOẠT ĐỘNG

NHÀ TÀI TRỢ

ĐĂNG KÝ

Chúng tôi sẽ gửi thông tin hoạt động sớm nhất cho bạn để sự giúp đỡ cụ thể cho các nhóm cá nhân yếu thế, cấp bách

Các tin tức khác

Hội thảo Ưu tiên đầu tư trong phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam

Ngày 30 tháng 10 năm 2018

Nhận thức rõ về việc các nguồn tài trợ quốc tế đang giảm nhanh chóng, đầu tư từ chương trình mục tiêu quốc gia cũng bị cắt giảm nhiều trong khi việc huy động từ các nguồn xã hội hoá còn hạn chế. Ngày 14/4/2014, Tổ Chuyên gia giúp việc Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm và Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phát triển Cộng đồng (SCDI) đã phối hợp tổ chức hội thảo “Xác định ưu tiên đầu tư trong phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam” .

Hội thảo nhằm sử dụng Khung Đầu tư Chiến lược về HIV thảo luận đưa ra khuyến nghị ưu tiên về đầu tư cho HIV tại Việt Nam để tập trung nguồn lực vào các can thiệp mang lại hiệu quả cao và có tác động lâu dài.

Tham dự Hội thảo có lãnh đạo và đại diện lãnh đạo nhiều cơ quan, đơn vị có liên quan, như ông Đặng Thuần Phong, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội; Các thành viên tổ chuyên gia giúp việc cho Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm; Vụ Khoa giáo – Văn xã, Văn phòng Chính phủ; Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y Tế; Chương trình phối hợp phòng, chống AIDS của Liên hiệp quốc (UNAIDS) tại Việt Nam; Kế hoach Khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ về phòng, chống AIDS (PEPFAR) tại Việt Nam; Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Việt Nam; Viện Nghiên cứu Quốc gia của Pháp về AIDS và Viêm gan Siêu vi; Liên minh các Tổ chức Dịch vụ về AIDS khu vực châu Á – Thái Bình dương (APCASO); Liên hiệp các Tổ chức phòng, chống AIDS của Australia (AFAO); Đại diện của các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế; Đại diện của các cộng đồng người đồng giới nam và chuyển giới, người tiêm chích ma tuý, người bán dâm....

Các báo cáo chính trình bày tại Hội thảo
Để có cơ sở khoa học và thực tiễn cho thảo luận, Hội thảo đã nghe các chuyên gia trong nước và quốc tế trình bày 6 báo cáo chuyên đề:

Báo cáo 1: Tình hình và xu hướng dịch HIV/AIDS
Tại Việt Nam, số người nhiễm HIV (NCH) được phát hiện qua xét nghiệm còn sống đến cuối năm 2013 là 217.285, trong đó 67.013 ở giai đoạn AIDS, và tổng số người đã tử vong do AIDS là 69.186. NCH tập trung ở độ tuổi 20 - 39, chiếm 78% (năm 2013). Về mặt dịch tễ học, dịch HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn “dịch tập trung”, nghĩa là vẫn chủ yếu lây truyền trong các nhóm quần thể có hành vi nguy cơ cao, bao gồm: người tiêm chích ma tuý, nam có quan hệ tình dục với nam, và người bán dâm. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma tuý và người bán dâm liên tục giảm, trong khi đó, tỷ lệ nhiễm trong nam quan hệ tình dục với nam là 7,4% và có khả năng lan nhanh. Từ năm 2013, số ca nhiễm HIV qua đường tình dục được phát hiện đã cao hơn qua đường máu...

Mặc dù dịch HIV/AIDS đã lan đến hầu hết các quận huyện tại 63 tỉnh thành phố, nhưng 56% NCH còn sống đến cuối năm 2013 tập trung tại 10 tỉnh/thành phố là: Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Sơn La, Nghệ An, Đồng Nai, Thanh Hoá, An Giang và Quảng Ninh.

Số người nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị bằng thuốc kháng vi rút (ARV) vào cuối năm 2013 là 80.700. Ước tính số người nhiễm HIV/AIDS trên 15 tuổi có nhu cầu được điều trị bằng ARV, theo Hướng dẫn điều trị Quốc gia (số lượng tế bào CD4 dưới 350/mm3 máu) là 116.964 vào năm 2013 và ước tính lên tới 132.581 người vào năm 2015. Số NCH cần điều trị sẽ còn cao hơn nhiều khi Việt Nam áp dụng Hướng dẫn Điều trị của Tổ chức Y tế Thế giới (khi số lượng tế bào CD4 dưới 500/mm3 máu.)

Báo cáo 2: Bằng chứng về hiệu quả về mặt y học của các can thiệp
Đại diện của Viện Nghiên cứu Quốc gia về HIV và Viêm gan Siêu vi của Pháp trình bày các bằng chứng khoa học về các can thiệp mang lại hiệu quả cao nhất trong dự phòng lây nhiễm HIV và giảm tử vong do AIDS đã được cộng đồng khoa học thế giới ghi nhận trong hơn 30 năm chống lại dịch HIV.

Các can thiệp đã được chứng minh hiệu quả bao gồm: khuyến khích sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch, điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (như Methadone và Buprenorphine).

Điều trị bằng ARV không những bảo vệ sức khoẻ và giảm tử vong cho NCH mà còn làm giảm đến 96% nguy cơ lây truyền HIV từ họ sang người khác qua quan hệ tình dục. Lao là nguyên nhân gây 1/3 số trường hợp tử vong ở người nhiễm HIV/AIDS. Vì vậy, cần tăng cường điều trị ARV ở cơ sở điều trị lao và điều trị lao ở cơ sở điều trị HIV cho người đồng nhiễm HIV/Lao.

Bài trình bày chia sẻ kết quả mô hình toán học sử dụng số liệu của Cần Thơ do nhóm chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới và Cục Phòng, chống HIVAIDS (Bộ Y tế Việt Nam) phân tích. Theo đó, xét nghiệm HIV hàng năm và điều trị ARV ngay lập tức khi phát hiện nhiễm HIV cho tất cả những người thuộc các nhóm có hành vi nguy cơ cao kết hợp với chương trình bao cao su và methadone sẽ làm giảm 80% số nhiễm HIV mới, với chi phí chỉ bằng 30% so với chi phí xét nghiệm hàng năm và điều trị ngay cho tất cả số người lớn nhiễm HIV.

Viện Nghiên cứu Quốc gia về HIV và Viêm gan Siêu vi của Pháp khuyến cáo các can thiệp chủ yếu nên bao gồm: bao cao su, bơm kim tiêm, điều trị thay thế và điều trị ARV sớm cho những người thuộc các nhóm có hành vi nguy cơ cao, và tăng cường hợp tác giữa chương trình phòng, chống lao và chương trình phòng, chống HIV/AIDS.

Báo cáo 3: Về đảm bảo tài chính cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam
Bài trình bày của Cục Phòng, chống AIDS nêu rõ việc triển khai sớm các chương trình phòng, chống HIV/AIDS, nhất là các giải pháp can thiệp giảm tác hại, điều trị thay thế bằng Methadone (cho người nhiện các chất dạng thuốc phiện và điều trị ARV (cho người nhiễm HIV/AIIDS)... đem lại những lợi ích to lớn về kinh tế, xã hội và y tế. Mặc dù chương trình phòng, chống HIV ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng mức độ giảm lây nhiễm HIV chưa sâu, chưa bền vững và vẫn còn nhiều “điểm nóng” về HIV/AIDS, tiềm ẩn nguy cơ dịch HIV/AIDS tăng trở lại; các can thiệp chủ yếu trong phòng, chống HIV/AIDS vẫn chưa đạt độ bao phủ cần thiết để đạt hiệu quả ngăn chặn dịch và đạt được các mục tiêu của Chiến lược quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS.

Cơ cấu ngân sách cho phòng, chống HIV tại Việt Nam thời kỳ 2008-2010 cho thấy 73,6% từ nguồn tài trợ quốc tế, 12,5% là đóng góp của gia đình; ngân sách Trung ương chỉ chiếm 5,3% và ngân sách địa phương là 8,2%. Riêng kinh phí mua thuốc ARV, trong khi các nước như Thailand, Malaysia... chi 98% bằng tiền ngân sách, thì tại Việt Nam ngân sách trong nước chỉ chiếm 4%.

Tổng ngân sách tài trợ dự kiến sẽ giảm 50% vào năm 2016 so với năm 2011 (từ 120 triệu xuống còn 60 triệu USD) và sau năm 2017 các nguồn tài trợ nước ngoài là chưa chắc chắn.

Theo tính toán của Bộ Y Tế, chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam giai đoạn 2014-2020 cần khoảng 24.547 tỷ đồng, trong khi khả năng huy động mới đạt khoảng 11.216 tỷ đồng (45,7%). Đáng lưu ý là trong ước tính này, nguồn tài trợ chiếm tới 72%.

Nếu không được đảm bảo nhu cầu thiết yếu về nguồn lực, công tác phòng, chống HIV/AIDS sẽ gặp khó khăn trong ngăn chặn nguy cơ dịch HIV/AIDS bùng phát trở lại, tăng tình trạng kháng thuốc, tăng tử vong do AIDS, dẫn đến chi phí tốn kém hơn nhiều lần về sau cũng như ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội (KTXH) và khả năng đạt được các Mục tiêu Thiên niên kỷ của Việt Nam.

Đề án “Đảm bảo Tài chính cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2013-2020” khẳng định “Nhà nước đảm bảo nguồn lực cho phòng chống AIDS” và hướng tới mục tiêu giảm kinh phí từ nguồn tài trợ xuống mức 25% vào năm 2020. Đề án này đã đưa ra lộ trình để chuyển nguồn đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS từ lệ thuộc vào viện trợ sang sử dụng nguồn trong nước với chiến lược phân cấp, lồng ghép vào hệ thống y tế và các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở cấp trung ương cũng như địa phương. Bảo hiểm y tế (BHYT) sẽ là cơ chế tài chính chủ yếu cho chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS...

Báo cáo 4: Đầu tư có chiến lược hơn
Đại diện UNAIDS tại Việt nam khẳng định Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trong phòng, chống HIV/AIDS. Tuy vậy, thành tựu trên đang có nguy cơ bị đổ vỡ do tình trạng cắt giảm tài chính của quốc gia và quốc tế.

Báo cáo nêu rõ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình đang đi đúng hướng khi tập trung điều trị ARV, Methadone và loại trừ lây truyền HIV từ mẹ sang con... nhưng việc giảm các ca nhiễm HIV ở người lớn chưa đạt mục tiêu đề ra trong Tuyên bố Chính trị về HIV/AIDS của Liên hiệp quốc năm 2011.

UNAIDS khuyến nghị Việt Nam đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS một cách có chiến lược hơn, tập trung vào các can thiệp mang lại hiệu quả cao. UNAIDS, Quỹ Toàn cầu phòng, chống AIDS, Lao và Sốt rét, PEPFAR và các nhà tài trợ lớn khác cho phòng, chống HIV/AIDS khuyến khích các quốc gia áp dụng cách tiếp cận đầu tư mới – coi các chi tiêu cho phòng, chống HIV/AIDS cũng là đầu tư cho phát triển và lựa chọn các giải pháp đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất, bền vững nhất.

Báo cáo 5: Khung Đầu tư Chiến lược cho phòng, chống HIV/AIDS
Đại diện Liên minh các Tổ chức dịch vụ AIDS Châu Á-Thái Bình Dương (APCASO) đã giới thiệu khái niệm, tầm quan trọng và cách sử dụng Khung đầu tư Chiến lược trong phòng, chống HIV/AIDS. Theo đó, các quốc gia không đầu tư dàn trải, không đầu tư vào các hoạt động chỉ vì đã chi tiền vào đó mà phải dựa trên tình hình dịch và bối cảnh thực tế của quốc gia để tập trung đầu tư cho các can thiệp thiết yếu và các can thiệp đã được chứng minh là hiệu quả nhất.

Theo Khung đầu tư chiến lược, để đạt được 3 mục tiêu là giảm nhiễm HIV, giảm lây truyền HIV và giảm tử vong do AIDS, 06 chương trình can thiệp cơ bản đã được chứng minh là có hiệu quả cao, bao gồm: điều trị bằng ARV cho người nhiễm HIV/AIDS, can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV cho các nhóm có hành vi nguy cơ cao nguy cơ cao (hay còn gọi là nhóm chủ chốt), dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, khuyến khích sử dụng bao cao su, truyền thông thay đổi hành vi và cắt bao quy đầu. Tuy nhiên, để các chương trình này có thể được thực hiện một cách có hiệu quả, Khung đầu tư chiến lược cũng xác định 02 nhóm yếu tố quyết định thúc đẩy hiệu quả của các chương trình can thiệp, bao gồm: yếu tố xã hội và yếu tố chương trình. Thêm vào đó, chương trình phòng, chống HIV/AIDS phải được đặt trong mối quan hệ tổng hoà với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác như bảo trợ xã hội, giáo dục, bình đẳng giới, xoá đói giảm nghèo... để tạo nên các tác động tương hỗ.

Chuyên gia của APCASO cũng nhấn mạnh, việc lựa chọn can thiệp là tuỳ vào tình hình dịch HIV/AIDS và bối cảnh của từng quốc gia. Ví dụ như can thiệp cắt bao quy đầu là rất phù hợp cho các nước có dịch HIV/AIDS ở mức độ lan tràn (như một số quốc gia ở châu Phi), nhưng đối với các quốc gia có dịch HIV còn ở mức tập trung như Việt Nam thì can thiệp cắt bao quy đầu có thể chưa phải là phù hợp.

Báo cáo 6: Chi phí và hiệu quả trong ứng phó với HIV/AIDS
Báo cáo của UNAIDS Việt Nam chia sẻ kết quả tính toán ở cấp độ toàn cầu về lựa chọn phương án đầu tư để đạt được mục tiêu loại trừ AIDS vào năm 2031. Theo đó, có 4 phương án, gồm: 1) tiếp tục như hiện tại, 2) nhân rộng can thiệp một cách nhanh chóng trong toàn thể dân cư, 3) “quyết định khó khăn” – tập trung đẩy mạnh can thiệp trong các nhóm có hành vi nguy cơ cao; và 4) thay đổi cấu trúc (củng cố hệ thống y tế, chống kỳ thị và phân biệt đối xử, thay đổi chính sách về lao động và việc làm...). Ước tính chi phí (ở cấp toàn cầu) để dự phòng được một trường hợp nhiễm HIV theo mỗi phương án (trong 04 phương án này) lần lượt là 6.225 , 7.594, 1.429 và 6.803 USD. Như vậy, phương án 3 - “quyết định khó khăn” - tập trung đầu tư vào các nhóm có hành vi nguy cơ cao là phương án có tính chi phí - hiệu quả cao nhất.

Một thách thức lớn ở Việt Nam là khả năng tiếp cận đến các nhóm có hành vi nguy cơ cao này. Cho đến nay, chương trình phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam mới chỉ tiếp cận được hơn 40% người tiêm chích ma tuý và nam có quan hệ tình dục với nam, và khoảng 50% phụ nữ bán dâm. Tỷ lệ người trong các nhóm này có làm xét nghiệm phát hiện HIV trong năm vừa qua còn thấp hơn nhiều.

Báo cáo chỉ rõ thách thức đối với chương trình điều trị nhiễm HIV/AIDS bằng ARV của Việt Nam là hiện nay 93% số bệnh nhân đang được điều trị nhờ vào nguồn tài trợ của PEPFAR và Quỹ Toàn cầu. Chương trình mục tiêu quốc gia chỉ cung cấp điều trị cho 7% số bệnh nhân. Điều đáng quan ngại hơn nữa cho khả năng chủ động của Việt Nam trong điều trị ARV là giá thuốc mà chương trình mục tiêu quốc gia đang mua cao gấp từ 2 đến 4 lần so với mức PEPFAR và Quỹ Toàn cầu mua. Giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần tăng hiệu quả của đầu tư trong nước cho chương trình.

Báo cáo cũng chỉ ra điều lo ngại rằng, đa số bệnh nhân HIV/AIDS ở Việt Nam được bắt đầu điều trị rất muộn do hạn chế trong việc thu hút người đên xét nghiệm, và quản lý những người đã có kết quả xét nghiệm dương tính với HIV.

Nhận diện cơ hội, thách thức đối với PC HIV/AIDS tại Việt Nam
Các cơ hội chính

  • Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã có những cam kết chính trị mạnh mẽ về PC HIV/AIDS. Việt Nam đã thành lập Uỷ ban Quốc gia PC AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch.
  • Hệ thống luật pháp, chính sách và các hướng dẫn liên quan đến PC HIV/AIDS ngày càng hoàn thiện (như Luật PC HIV/AIDS, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Xử lý vi phạm hành chính, các Nghị định có liên quan như Nghị định về Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng chất thay thế...; các Thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế về kết hợp điều trị Lao/HIV, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV; khung pháp luật và chính sách về chăm sóc, điều trị HIV...).
  • Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia PC HIV/AIDS đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 phù hợp với điều kiện Việt Nam và Tuyên bố Chính trị của Đại hội đồng Liên hiệp quốc tháng 06/2011; Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia PC HIV/AIDS giai đoạn 2011-2015; Đề án Bảo đảm tài chính cho các hoạt động PC AIDS giai đoạn 2013-2020; Uỷ ban quốc gia PC AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm đã có chuyên đề công tác năm 2014 hướng về cộng đồng với phương châm phòng ngừa là chính...
  • Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ to lớn và hiệu quả của các nhà tài trợ quốc tế song phương và đa phương cả về nguồn lực tài chính và kỹ thuật, nhờ đó đã xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý, xét nghiệm, dự phòng, chăm sóc, điều trị... liên quan đến HIV/AIDS từ trung ương đến địa phương; hình thành được hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho PC HIV/AIDS bao gồm các hướng dẫn chuyên môn, biểu mẫu báo cáo, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ chẩn đoán và điều trị nhiễm HIV/AIDS; đồng thời, cũng nhờ các nhà tài trợ mà nhiều thực hành tốt nhất trong PC HIV/AIDS trên thế giới đã nhanh chóng được thử nghiệm và áp dụng rộng rãi tại Việt Nam
  • Việt Nam đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong suốt gần 25 năm đương đầu với HIV/AIDS


Các thách thức cơ bản

  • Môi trường luật pháp, chính sách cần được tiếp tục hoàn thiện để tạo thuận lợi cho việc huy động và sử dụng các nguồn lực trong nước cho các dịch vụ PC HIV/AIDS như sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm Y tế, Luật Ngân sách...; hướng dẫnthi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các Luật PC AIDS, Luật Phòng, chống Ma tuý; Pháp lệnh/Luật phòng, chống Mại dâm; tiếp tục xây dựng và ban hành Chương trình Mục tiêu quốc gia PC AIDS giai đoạn 2016-2020...
  • Dịch HIV/AIDS tại Việt Nam còn diễn biến phức tạp, còn nhiều “điểm nóng” về HIV/AIDS, tỷ lệ nhiễm trong các nhóm chủ chốt vẫn còn cao, mức độ giảm tỷ lệ nhiễm HIV chưa sâu, chưa bền vững và vẫn tiềm ẩn nguy cơ dịch bùng phát trở lại, với nguy cơ kháng thuốc cao, đòi hỏi chi phí lớn hơn....
  • Còn nhiều khó khăn trong việc mở rộng độ bao phủ của các chương trình can thiệp chủ chốt do mức độ tiếp cận dịch vụ PC HIV/AIDS của các nhóm quần thể có hành vi nguy cơ cao còn thấp, bệnh nhân đến điều trị ARV còn muộn, phần lớn nhu cầu điều trị thay thế bằng Methadone của những người tiêm chích ma tuý còn chưa được đáp ứng, tỷ lệ NCH chưa được tham gia chương trình chăm sóc, điều trị ARV còn rất cao, điều trị đồng nhiễm Lao/HIV còn rất hạn chế...
  • Tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với NCH còn rất phổ biến, nhất là hiện tượng kỳ thị “kép” khi NCH cũng là người bán dâm, người sử dụng ma tuý, người đồng tính hoặc chuyển giới đang là rào cản cho việc tăng cường sự tiếp cận của họ với các dịch vụ PC HIV/AIDS.
  • Nguồn lực tài chính cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đã hạn hẹp, lại đang bị cắt giảm cả nguồn tài trợ và ngân sách quốc gia trong khi bảo hiêm y tế chưa thực sự vào cuộc, việc huy động nguồn lực xã hội và đóng góp của gia đình bệnh nhân còn rất hạn chế.


Khuyến nghị về xác định ưu tiên đầu tư chiến lược
Phương pháp tiếp cận
Đầu tư cho PC HIV/AIDS là đầu tư hiệu quả cho tương lai, góp phần đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế, xã hội. Do đó cần coi PC HIV/AIDS là một trong những mục tiêu ưu tiên của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, từ đó cần lồng ghép các nội dung, hoạt động PC HIV/AIDS vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và của địa phương.

Cần xây dựng mô hình đầu tư theo hướng tăng dần tính tự chủ quốc gia; xác định ưu tiên phù hợp với định hướng của quốc gia và của nhà tài trợ cũng như nguồn lực có thể huy động, tập trung vào các can thiệp tạo ra tác động lớn nhất ở các vùng trọng điểm và các nhóm quần thể có nguy cơ cao nhất. Thay vì đầu tư dàn trải, cần đầu tư vào ít nội dung nhưng sâu hơn để đạt các mục tiêu dài hạn với chi phí thấp dựa trên những bằng chứng thực tế và các kết quả nghiên cứu.

Kiến nghị ưu tiên đầu tư cho PC HIV/AIDS tại Việt Nam trong thời gian tới
Chương trình ưu tiên
Tập trung đầu tư vào các nhóm quần thể có hành vi nguy cơ cao là NBD, MSM, người chuyển giới và NTCMT. Đồng thời chú trọng phụ nữ nhiễm HIV có thai để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, và các bệnh nhân đồng nhiễm Lao/HIV để ngăn chặn lây nhiễm cả lao, cả HIV và giảm tử vong.

Địa bàn đầu tư
Tập trung đầu tư vào các địa bàn có tỷ lệ nhiễm HIV cao hoặc số NCH nhiều cũng như vùng sâu, miền núi... nơi dịch vụ PC HIV/AIDS vừa thiếu, vừa yếu và còn nhiều rào cản về dân trí, văn hóa...

Các can thiệp cần được ưu tiên đầu tư

  • Mở rộng điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, trong đó cần chủ động nguồn Methadone thông qua việc tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của ngành y tế và của Ngành Lao động, Thương bình và Xã hội như các cơ sở giáo dục, lao động, xã hội...
  • Mở rộng điều trị HIV/AIDS bằng ARV sớm để giảm số người chưa được chăm sóc và điều trị và giảm nguy cơ lây truyền HIV, trong đó có việc điều trị bằng ARV ngay sau khi được chẩn đoán nhiễm HIV cho phụ nữ mang thai, bệnh nhân đồng nhiễm Lao/HIV, NCH thuộc các nhóm có hành vi nguy cơ cao.
  • Tiếp tục mở rộng cấp phát bao cao su, bơm kim tiêm sạch cho các nhóm có hành vi nguy cơ cao và tại các vùng “nóng” về dịch HIV/AIDS.
  • Mở rộng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện để phát hiện sớm các ca nhiễm HIV mới, nhất là những người thuộc các nhóm có hành vi nguy cơ cao. Cải thiện sự kết nối giữa dịch vụ xét nghiệm HIV và chăm sóc, điều trị HIV/AIDS, đưa người đã được chẩn đoán nhiễm HIV vào điều trị bằng ARV kịp thời và tránh mất dấu.


Một số hoạt động hỗ trợ cần được quan tâm

  • Hoạt động truyền thông thay đổi hành vi trong PC HIV/AIDS cần được đổi mới về cơ bản, nên tập trung vào một số nhóm đối tượng cụ thể: 1) Các nhà hoạch định và thực thi chính sách về HIV/AIDS để họ nắm được thông tin tương đối đầy đủ và chính xác; 2) Những người có hành vi nguy cơ lây nhiễm cao; 3) Người dân ở các “điểm nóng” về HIV/AIDS... để nâng cao nhận thức và giảm kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến nhiễm HIV/AIDS.
  • Đầu tư cho việc kiểm tra, giám sát thực thi luật pháp, chính sách, cũng như triển khai các hoạt đông PC HIV ở các cấp, đặc biệt là ở tuyến cơ sở và cộng đồng.


Vai trò của các tổ chức xã hội, các nhóm đồng đẳng, nhóm tự lực
Các nhóm tự lực, nhóm đồng đẳng đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao nhận thức, cung cấp thông tin, kiến thức và khuyến khích những người cùng cảnh ngộ xét nghiệm HIV và tiếp cận điều trị HIV/AIDS sau khi được chẩn đoán nhiễm HIV. Huy động sự tham gia của các lực lượng này vào các hoạt động PC HIV/AIDS chính là chìa khoá cho sự thành công của công cuộc PC HIV/AIDS.

Giải pháp triển khai các ưu tiên đầu tư
Cam kết chính trị
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tiếp tục cam kết mạnh mẽ đối với công tác PC HIV/AIDS phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ và bối cảnh của giai đoạn mới.

Môi trường luật pháp, chính sách
Một số vấn đề ưu tiên về môi trường luật pháp, chính sách phục vụ cho việc mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ PC HIV/AIDS bao gồm:

  • Sửa đổi Luật Ngân sách để thể chế hoá việc đầu tư từ ngân sách Trung ương và địa phương theo “Đề án Đảm bảo tài chính cho các hoạt động PC HIV/AIDS, giai đoạn 2013 – 2020”.
  • Sửa đổi Luật BHYT để cụ thể hoá các chính sách BHYT và các dịch vụ liên quan đến PC HIV/AIDS có thể được chi trả từ quỹ BHYT.
  • Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 18/2008/QH12 ngày 3/6/2008 của Quốc hội Khóa XII về yêu cầu đảm bảo ít nhất 30% tổng ngân sách y tế cho y tế dự phòng trong đó cần xác định tỷ lệ ngân sách thích đáng dành cho PC HIV/AIDS và quy định rõ các nội dung chi, mức chi để địa phương có thể thực hiện.
  • Hướng dẫn thi hành Luật Xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến PC HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, trong đó có các nội dung liên quan đến NBD, NTCMT.
  • Xây dựng và ban hành Chương trình Mục tiêu quốc gia PC AIDS giai đoạn 2016-2020.


Huy động sự tham gia của cộng đồng
Với chủ trương hướng về cơ sở, tập trung các hoạt động PC HIV/AIDS về cộng đồng dân cư thì sự tham gia của cộng đồng vào công tác này là yếu tố quyết định cho sự thành công lâu dài, bền vững của công tác PC HIV/AIDS, do vậy thời gian tới, cần tăng cường huy động sự đóng góp nguồn lực từ cộng đồng và chú trọng đến vai trò tích cực của các TCXH. Có kế hoạch hỗ trợ để duy trì và phát triển các TCXH làm việc trong lĩnh vực PC HIV/AIDS, nhất là các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm để đảm bảo duy trì hoạt động PC HIV/AIDS một cách có hiệu quả sau khi tài trợ của quốc tế giảm dần hoặc kết thúc.

Huy động nguồn lực trong nước và quốc tế, phân bổ và sử dụng hiệu quả

  • Nguồn ngân sách Nhà nước phải đóng vai trò chủ lực thay thế dần cho nguồn hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế trong thời gian tới.
  • Đầu tư cần tập trung chủ yếu cho các hoạt động can thiệp dự phòng cơ bản và điều trị bằng ARV sớm cho những người có hành vi nguy cơ cao bị nhiễm HIV. Cần thực hiện việc rà soát để điều chỉnh lại các nguồn lực hiện có hướng vào lĩnh vực ưu tiên đã nêu, kể cả các các nguồn đầu tư từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia và từ các nguồn tài trợ quốc tế.
  • Các địa phương cần xây dựng Đề án đảm bảo tài chính cho các hoạt động PC HIV/AIDS trình Hội đồng Nhân dân thông qua và Chủ tịch Ủy ban nhân dân phê duyệt theo hướng đảm bảo chi thường xuyên cho các hoạt động PC HIV/AIDS tại địa phương.
  • BHYT cần phải vào cuộc sâu hơn và nhanh hơn, trong đó có việc chi trả cho chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS bao gồm cả điều trị ARV, với các ưu đãi cho người nhiễm HIV nghèo, thuộc hộ nghèo hay thuộc diện chính sách như đối với các bệnh khác.
  • Huy động sự đóng góp của bệnh nhân, gia đình bệnh nhân khi sử dụng một số dịch vụ PC HIV/AIDS, trong đó có việc đồng chi trả trong điều trị bằng Methadone.
  • Nhà nước cần có chính sách phù hợp để có thể huy động đóng góp của các doanh nghiệp cho các hoạt động PC HIV/AIDS.
  • Tiếp tục vận động để huy động nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế với các cơ chế chính sách huy động mới phù hợp.


Tăng cường kết nối chương trình
Cần rà soát và xác định những kết nối mang tính chiến lược giữa PC AIDS với các chương trình, dự án phát triển KTXH của đất nước, như xoá đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đổi mới công tác cai nghiện... cũng như các chương trình an sinh, xã hội khác nhằm tăng tính cộng hưởng, tiết kiệm nguồn lực, mang lại tác động lớn và bền vững hơn.

Hội thảo là một trong những hoạt động chính của Dự án Sáng kiến Vận động Cộng đồng (CAI) do SCDI thực hiện từ tháng 10/2012 đến tháng 6/2014.

Tài trợ

Chúng tôi đảm bảo khoản tiền của bạn cho SCDI sẽ được đi đến nơi cần nhất, không chậm trễ, hệ thống quản lý khoản tiền trực tuyến của chúng tôi đảm bản an toàn cho tài khoản của bạn.

Chấp nhận thanh toán

Đăng
ký  

Chúng tôi sẽ gửi thông tin hoạt động sớm nhất cho bạn để sự giúp đỡ cụ thể cho các nhóm cá nhân yếu thế, cấp bách